1. Thủ tục tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan
Thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan nhận được công văn của một số doanh nghiệp và Bộ Giao thông Vận tải về việc tạm hoãn áp dụng biện pháp cưỡng chế “tạm dừng làm thủ tục hải quan”. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
a. Điều kiện:
Để được tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan thì doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện sau:
- Không còn nợ tiền thuế quá hạn
- Không còn nợ tiền chậm nộp, tiền phạt của các lô hàng
- Nộp đủ thuế cho các lô hàng đang làm thủ tục hải quan
- Số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt người nộp thuế đang còn nợ phải được bảo lãnh theo quy định
Nguồn: Điều 33.5 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP
b. Thủ tục giải quyết:
Doanh nghiệp muốn dỡ bỏ lệnh cưỡng chế phải gửi văn bản đề nghị tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế tại Cục Hải quan phát sinh khoản nợ. Đồng thời gửi kèm theo thư bảo lãnh của ngân hàng đối với khoản nợ của doanh nghiệp
Cục Hải quan nơi doanh nghiệp có khoản nợ bị cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan sẽ tiếp nhận, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ. Sau đó, Cục Hải Quan báo cáo, đề xuất Tổng cục Hải quan xem xét trình Bộ Tài chính ban hành quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật
Điều 33.6 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP
Theo Công văn số 3802/TCHQ-TXNK ngày 09 tháng 08 năm 2024
2. Khai sai chỉ tiêu “Mã loại hình” khi tham gia Chương trình ưu đãi thuế
Hiện nay Việt Nam đang triển khai Chương trình ưu đãi thuế đối với linh kiện nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp xe ô tô – Theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP
Trong thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan nhận được câu hỏi của một số doanh nghiệp về quyền được hưởng thuế suất ưu đãi trong trường hợp khai báo sai thông tin trên tờ khai. Về vấn đề này, Thủ tục Hải quan có ý kiến như sau:
Về thủ tục khai báo trên tờ khai hải quan của Chương trình ưu đãi thuế để sản xuất, lắp ráp ô tô:
- Chỉ tiêu “Mã loại hình”: khai mã loại hình A43 – “Nhập khẩu hàng hóa thuộc Chương trình ưu đãi thuế”;
- Chỉ tiêu “Sổ quản lý nội bộ của doanh nghiệp”: khai mã “#&7a.”
Trong quá trình khai báo, cần lưu ý rằng:
- Chỉ tiêu “Mã loại hình” thuộc danh sách các chỉ tiêu thông tin không được khai bổ sung;
- Chỉ tiêu “Số quản lý của nội bộ doanh nghiệp” có thể khai bổ sung
(Theo mục 3 Phụ lục II Thông tư số 38/2015/TT-BTC)
Trường hợp doanh nghiệp khai sai chỉ tiêu “Mã loại hình”- thuộc danh sách các thông tin không được khai bổ sung thì không đủ điều kiện để áp dụng mức thuế suất ưu đãi 0% nhóm 98.49 của Chương trình ưu đãi thuế để sản xuất, lắp ráp ô tô.
Theo Công văn số 3815/TCHQ-XNK ngày 09 tháng 08 năm 2024
3. Xử lý khác biệt mã số hàng hóa do thay đổi phiên bản mã HS
Vừa qua, Tổng cục Hải quan nhận được yêu cầu hướng dẫn xử lý trong trường hợp có khác biệt giữa mã HS trên C/O do Nhật Bản cấp (sử dụng HS 2007, HS 2012, HS 2017) và mã HS trên tờ khai nhập khẩu (sử dụng HS 2022).
Đối với trường hợp này, Tổng Cục Hải quan yêu cầu các Chi cục Hải quan chấp nhận C/O trong trường hợp không có nghi ngờ nào khác về tính hợp lệ của C/O
Xử lý khác biệt mã HS trong các trường hợp khác:
Cơ quan Hải quan từ chối cấp C/O nếu đủ cơ sở xác định tên hàng hóa trên C/O không phải tên hàng hóa trên tờ khai hoặc khác với thực tế hàng hóa nhập khẩu.
Nếu cơ quan hải quan không đủ cơ sở để xác định tên hàng hóa trên C/O chính là tên hàng hóa trên tờ khai thì xử lý sự khác biệt về mã HS như sau:
Trường hợp C/O áp dụng tiêu chí xuất xứ thuần túy (WO): chấp nhận C/O nếu không có nghi ngờ về tính chính xác của thông tin khai báo
Trường hợp C/O áp dụng tiêu chí hàng hóa được sản xuất từ toàn bộ từ nguyên vật liệu có xuất xứ (PE hoặc RVC100%):
- Chấp nhận C/O nếu không có nghi ngờ về tính chính xác của thông tin khai báo
- Từ chối cấp C/O nếu tiêu chí áp dụng trên C/O là PE hoặc RVC100%, trong khi tiêu chí áp dụng cho mã HS trên tờ khai lại là WO.
Trường hợp này C/O chỉ được chấp nhận nếu Hiệp định thương mại (FTA) cho phép hàng hóa được sản xuất từ nguyên liệu có xuất xứ thuần túy của nước thành viên khác thì được coi hàng hóa có xuất thuần túy của quốc gia đó
Trường hợp C/O áp dụng tiêu chí quy trình sản xuất đặc thù (SP): chấp nhận C/O nếu quy trình sản xuất giống nhau. Nếu không, cơ quan hải quan sẽ xác minh tính hợp lệ.
Trường hợp C/O áp dụng tiêu chí Chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) hoặc giá trị hàm lượng gia tăng (RVC): chấp nhận C/O nếu doanh nghiệp cung cấp đủ thông tin, chứng từ chứng minh hàng hóa thỏa mãn tiêu chí tương ứng
(Căn cứ Thông tư số 33/2023/TT-BTC và công văn số 2011/TCHQ-GSQL ngày 09/5/2024)
Theo Công văn số 3808/TCHQ-GSQL ngày 09 tháng 08 năm 2024
4. Thủ tục nhập khẩu và phân loại mã HS cho hàng hóa hoàn thiện chưa lắp ráp hoặc tháo rời
a. Về phân loại mã HS:
Hàng hóa ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời thường do yêu cầu đóng gói, bảo quản hoặc vận chuyển thì thực hiện phân loại mã HS cùng nhóm với mặt hàng đó ở dạng đã lắp ráp, hoàn thiện.
Điều này căn cứ theo Quy tắc 2a thuộc 6 Quy tắc tổng quát giải thích việc phân loại HS của Tổ chức Hải quan thế giới WCO quy định như sau:
“Một mặt hàng được phân loại vào một nhóm hàng thì mặt hàng đó ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện cũng thuộc nhóm đó, nếu đã có đặc trưng cơ bản của hàng hóa đó khi đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện. Cũng phân loại như vậy đối với hàng hóa ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện hoặc đã có đặc trưng cơ bản của hàng hóa ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện (hoặc được phân loại vào dạng hàng hóa đã hoàn chỉnh hay hoàn thiện theo nội dung Qui tắc này), nhưng chưa lắp ráp hoặc tháo rời.”
Theo mục đích của Qui tắc này, “hàng hóa ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời” là những hàng hóa mà bộ phận của chúng sẽ được lắp ráp lại với nhau bằng các dụng cụ lắp ráp (vít, bu-lông, đai ốc, ê -cu,…), hoặc ghép bằng đinh tán hoặc bằng cách hàn lại, với điều kiện những hoạt động này chỉ đơn thuần là lắp ráp mà không cần trải qua một công đoạn gia công nào
Khi phân loại mã HS cho hàng hóa, phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
Nếu công ty không cung cấp cụ thể, chi tiết thông tin về hàng hóa cũng như không cung cấp hình ảnh, tài liệu kỹ thuật của hàng hóa do đó Tổng cục Hải quan không đủ cơ sở xem xét hướng dẫn về phân loại hàng hóa.
b. Về thủ tục hải quan:
Hàng hóa ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời mà được nhập khẩu từ nhiều nguồn, nhiều chuyến hàng, làm thủ tục tại nhiều cửa khẩu khác nhau thì thực hiện như sau:
- Đăng ký danh mục các chi tiết, linh kiện rời của máy móc, thiết bị (sau đây gọi là “Danh mục”) theo mẫu số 03/DMTBĐKNK-TDTL/2015
- Nộp kèm 01 Phiếu theo dõi trừ lùi các chi tiết, linh kiện rời của máy móc, thiết bị (theo mẫu số 04/PTDTL-TBNC/2015) trước khi nhập khẩu lô hàng đầu tiên
Trường hợp đã đăng ký “Danh mục” nhưng cần sửa đổi, bổ sung thông tin thì người khai hải quan được sửa đổi, bổ sung và nộp lại “Danh mục”, phiếu theo dõi trừ lùi mới trước thời điểm nhập khẩu lần đầu hoặc trước thời điểm nhập khẩu máy móc thiết bị cho lô hàng tiếp theo
Điều 8 Thông tư số 14/2015/TT-BTC
Theo Công văn số 4052/TCHQ-TXNK ngày 23 tháng 08 năm 2024
5. Liên minh Châu Âu (EU): khởi xướng cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan tới sản phẩm “thép cán nóng” có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam
a. Thông tin cơ bản
- Số hiệu văn bản: C/2024/4995
- Ngày ban hành: ngày 08 tháng 08 năm 2024
- Cơ quan điều tra: Tổng cục Thương mại – Ủy ban Châu Âu
- Bên khởi xướng điều tra: Hiệp hội Thép châu Âu (EUROFER – “người khiếu nại”). Đơn được nộp thay mặt cho ngành công nghiệp Liên minh của một số sản phẩm thép phẳng cán nóng theo Điều 5(4) của Hiệp định chống bán phá giá WTO
- Lý do khởi xướng điều tra: Ủy ban châu Âu (“Ủy ban”) đã nhận được một đơn khiếu nại theo Điều 5 của Quy định (EU) 2016/1036 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 8 tháng 6 năm 2016 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bị bán phá giá từ các quốc gia không thuộc Liên minh châu Âu. Đơn khiếu nại cáo buộc rằng các sản phẩm thép phẳng cán nóng có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đang bị bán phá giá và gây thiệt hại cho ngành công nghiệp của EU
b. Đối tượng điều tra:
- Tên hàng hóa: thép phẳng cán nóng từ sắt, thép không hợp kim hoặc thép hợp kim, bất kể có ở dạng cuộn hay không (bao gồm cả các sản phẩm cắt theo chiều dài và sản phẩm dải hẹp), không được gia công thêm ngoài cán nóng, không được mạ hay tráng.
- HS Code: 7208.10.00, 7208.25.00, 7208.26.00, 7208.27.00, 7208.36.00, 7208.37.00, 7208.38.00, 7208.39 00, 7208.40.00, 7208.52.10, 7208.52.99, 7208.53.10, 7208.53.90, 7208.54.00, 7211.13.00, 7211.14.00, 7211.19.00, ex 7225.19.10 (mã TARIC 7225.19.10.90), 7225.30.90, ex 7225.19.10 (mã TARIC 7225.19.10.90), 7225.30.90, ex 7226.19.10 (mã TARIC 7226.19.10.91, 7226.19.10.95), 7226.91.91 và 7226.91.99.
- Xuất xứ của hàng hóa bị điều tra: Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam
c. Cáo buộc bán phá giá và thiệt hại
- Biên độ bán giá phá
Cáo buộc bán phá giá được xây dựng dựa trên hai trường hợp sau:
- Trong những tháng mà giá bán dưới chi phí sản xuất, tiến hành so sánh một giá trị thông thường (gồm chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, quản lý, và lợi nhuận) với giá xuất khẩu của sản phẩm (tính tại nhà máy) khi xuất khẩu sang EU.
- Trong những tháng mà giá bán trên chi phí sản xuất, tiến hành so sánh giá trong nước với giá xuất khẩu (tính tại nhà máy) của sản phẩm khi xuất khẩu sang EU.
Cuối cùng, các kết quả so sánh hàng tháng được tổng hợp lại thành dữ liệu hàng năm. Kết quả chỉ ra rằng biên độ bán phá giá của các công ty Việt Nam được cho là đáng kể
- Thiệt hại:
Hành vi bán phá giá gây ra hậu quả làm giảm số lượng hàng bán ra, mức giá bán và thị phần của ngành công nghiệp Liên minh Châu Âu EU, gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động tổng thể, tình hình tài chính và vấn đề việc làm
d. Cáo buộc về sự bóp méo giá nguyên liệu thô (Allegation of raw material distortions)
Đối với sản phẩm thép từ Việt Nam, quặng sắt và than cốc, lần lượt chiếm [30-40%] và [26-39%] chi phí sản xuất của sản phẩm đang bị điều tra. Đơn khiếu nại cho thấy sự méo mó về nguyên liệu thô dẫn đến giá thành thấp hơn đáng kể so với các thị trường quốc tế đại diện, theo Điều 7(2a), đoạn 2 của Hiệp định chống bán phá giá WTO
e.Giai đoạn điều tra (POI):
- Giai đoạn xác minh hành vi bán phá giá: từ ngày 01 tháng 04 năm 2023 đến ngày 31 tháng 03 năm 2024
- Giai đoạn đánh giá thiệt hại: từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 đến ngày 31 tháng 03 năm 2024
Trong Thông báo khởi xướng, EC đã cung cấp chi tiết các nội dung liên quan tới Bên yêu cầu, hàng hóa bị điều tra, cáo buộc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, cáo buộc về can thiệp giá nguyên liệu đầu vào, quy trình thủ tục điều tra và các thời hạn liên quan, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, hướng dẫn về các thủ tục tải và đăng tải tài liệu trên hệ thống điện tử TRON của EC
Để biết thêm các thông tin chi tiết, vui lòng truy cập:
- Tổng hợp đầy đủ của UNI về vụ việc: BẢN ĐẦY ĐỦ
- Tệp đính kèm bản gốc vụ việc: BẢN GỐC
6. Ấn Độ: khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm “thép hợp kim hoặc không hợp kim dạng cuộn cán nóng” có xuất xứ hoặc xuất khẩu từ Việt Nam (Mã vụ việc: AD OI – 13/2024)
a. Thông tin cơ bản:
- Mã vụ việc: AD OI – 13/202
- Ngày ban hành: ngày 14 tháng 08 năm 2024
- Cơ quan điều tra: Cục Phòng vệ Thương Mại Ấn Độ
- Bên khởi xướng điều tra: Hiệp hội Thép Ấn Độ (“ISA”)
- Nguyên đơn: JSW Steel Limited và ArcelorMittal Nippon Steel India Limited
- Lý do khởi xướng điều tra: Dựa trên đơn đề nghị, nhận thấy có đầy đủ bằng chứng sơ bộ về hành vi bán phá giá của các công ty Việt Nam và thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra, cũng như nguy cơ gây thiệt hại trong tương lai. Vì vậy vào ngày 14 tháng 04 năm 2024, Cục Phòng vệ Thương Mại Ấn Độ quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá theo Điều Phần 9A và Điều 5 Hiệp định chống bán phá giá của WTO
b. Đối tượng điều tra:
- Tên hàng hóa: Thép cuộn cán nóng bằng thép hợp kim hoặc không hợp kim, chưa phủ, chưa mạ hoặc tráng, có độ dày lên đến 25mm và chiều rộng lên đến 2100mm
- Sản phẩm được loại trừ: thép không gỉ cán nóng dạng cuộn
- HS Code: 7208, 7211, 7225 và 7226.
Các bên liên quan đến cuộc điều tra hiện tại có thể đưa ra ý kiến về phạm vi của sản phẩm đang được xem xét và các mã số kiểm soát sản phẩm (PCN) đề xuất, nếu có, trong vòng 15 ngày kể từ khi bắt đầu cuộc điều tra này.
- Xuất xứ của hàng hóa bị điều tra: Việt Nam
c. Cáo buộc về hành vi bán phá giá, thiệt hại và mối liên hệ nhân quả
- Biên độ phá giá: Giá trị thông thường và giá xuất khẩu đã được so sánh ở mức giá xuất xưởng, qua đó cho thấy sơ bộ rằng biên độ phá giá vượt mức tối thiểu và đáng kể đối với sản phẩm đang được xem xét nhập khẩu từ quốc gia liên quan.
- Thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước: phía nguyên đơn cho rằng do lượng nhập khẩu lớn và giá thấp, tình hình kinh doanh của họ đã xấu đi, như lợi nhuận tiền mặt, thị phần, lợi nhuận chung và tỷ suất đầu tư đều giảm. Họ cũng lo ngại rằng hàng nhập khẩu bị bán phá giá đang đe dọa gây thêm thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước. Có đủ bằng chứng ban đầu cho thấy ngành công nghiệp nội địa đã chịu thiệt hại thực sự và có nguy cơ bị thiệt hại thêm do hàng nhập khẩu thép cán nóng từ Việt Nam
d. Thời kỳ điều tra (POI):
- Thời kỳ điều tra hành vi bán phá giá: từ ngày 1 tháng 1 năm 2023 đến ngày 31 tháng 3 năm 2024
- Thời kỳ điều tra thiệt hại bao gồm các giai đoạn:
- Từ ngày 1 tháng 4 năm 2020 đến ngày 31 tháng 3 năm 2021
- Từ ngày 1 tháng 4 năm 2021 đến ngày 31 tháng 3 năm 2022
- Từ ngày 1 tháng 4 năm 2022 đến ngày 31 tháng 3 năm 2023
- POI: từ ngày 1 tháng 4 năm 2023 đến ngày 31 tháng 3 năm 2024
e. Yêu cầu áp dụng thuế chống bán phá giá hồi tố
Phía nguyên đơn đã yêu cầu áp dụng thuế chống phá giá truy thu với các lý do sau:
- Việt Nam đã từng có tiền lệ bán phá giá sản phẩm “thép cuộn cán nóng” và đã từng bị áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm này
- Các nhà xuất khẩu Việt Nam có hành vi bán phá giá trên quy mô lớn trong thời gian tương đối ngắn. Biên độ bán phá giá là đáng kể trong thời kỳ điều tra và lượng hàng hóa nhập khẩu theo giá bán phá giá đã tăng lên trong giai đoạn gần đây
- Có sự suy giảm đáng kể về hiệu quả hoạt động của ngành sản xuất thép Ấn Độ trong thời gian điều tra, gây ra hậu quả đáng kể. Nếu hậu quả này không được ngăn chặn ngay lập tức bằng việc áp dụng thuế chống bán phá giá thì ngành sản xuất thép của Ấn Độ sẽ bị thiệt hại không thể khắc phục được
Hiện nay, Cục Phòng vệ Thương Mại Việt Nam đang phối hợp với Thương Vụ Việt Nam tại Ấn Độ để đề nghị DGTR cung cấp thêm các thông tin cần thiết khác để chuyển tới các bên liên quan
Để biết thêm các thông tin chi tiết, vui lòng truy cập:
- Tổng hợp đầy đủ của UNI về vụ việc: BẢN ĐẦY ĐỦ
- Thông tin chính thức về vụ việc: BẢN GỐC



